Điều trị rối loạn tiểu tiện, thuốc gì?

Từ lâu đã có nhiều thuốc tốt cho những người bị bệnh bàng quang quá nhạy cảm và són đái liên quan đến chức năng kiểm soát bàng quang với đặc trưng là mót đái đột ngột, rất khẩn cấp và nước tiểu thoát ra.

10.0025

Từ lâu đã có nhiều thuốc tốt cho những người bị bệnh bàng quang quá nhạy cảm và són đái liên quan đến chức năng kiểm soát bàng quang với đặc trưng là mót đái đột ngột, rất khẩn cấp và nước tiểu thoát ra. Tuy nhiên, với chứng són đái do stress (do một gắng sức thể chất như ho, hắt hơi hay nâng vác vật nặng) thì những lựa chọn điều trị còn ít hơn.

Són đái và nhiều rối loạn tiểu tiện khác (đái khó, dòng nước tiểu yếu, đái không hết…) cũng hay xảy ra ở bệnh lýtuyến tiền liệt. Cơ chế tác dụng của các thuốc như thế nào?

Các thuốc kìm hãm tiết acetylcholine (anticholinergic) có tác dụng làm cho chất dẫn truyền thần kinh (chemical messenger) acetyl cholin bị phong tỏa và không thể truyền tín hiệu để tạo ra cơn co bàng quang bất thường. Bàng quang quá nhạy cảm, một trong những nguyên nhân gây ra chứng són đái do quá mót, làm cho người bệnh muốn đái ngay cả khi bàng quang không đầy. Thuốc kìm hãm chất acetylcholine để không tạo ra cảm giác mót đái. Nhiều thuốc thuộc loại này như oxybutynin (ditropan), tolterodine (detrol), darifenacin (enablex), solifenacin (vesicare), trospium (sanctura), fesoterodine (toviaz)…

Một số thuốc ở dạng thải trừ kéo dài cho nên chỉ dùng 1 lần mỗi ngày. Loại này ít có tác dụng phụ hơn so với loại thải trừ nhanh phải dùng nhiều lần trong ngày. Tuy nhiên, loại thải trừ nhanh lại có ích cho những trường hợp chỉ bị són đái ở một số thời điểm nào đó, ví dụ són đái về đêm. Oxybutynin cũng có dạng kem hay miếng dán để tiết liên tục một lượng thuốc.

Tác dụng phụ hay gặp nhất của loại thuốc kìm hãm tiết acetylcholine là khô miệng, vì thế nên ngậm kẹo hay kẹo cao su để có thêm nước bọt. Ngoài ra, có thể táo bón, ợ nóng, mờ mắt, tim đập nhanh, ứ đọng nước tiểu và có vấn đề về trí nhớ và lú lẫn. Loại miếng dán hay gây kích thích da cho nên cần thay đổi vị trí miếng dán.

 Cơ quan tiết niệu.

Estrogen:

Bàng quang và niệu đạo của phụ nữ có những thụ thể với hormon estrogen. Estrogen giúp duy trì sức mạnh và sự mềm dẻo của các mô ở khu vực. Sau mãn kinh, estrogen được tiết ra ít hơn, do đó các mô quanh bàng quang và niệu đạo giảm khả năng nâng đỡ nên suy yếu và làm cho chứng són đái do stress (mỗi khi gắng sức) càng trầm trọng hơn. Estrogen có khả năng cải thiện lưu lượng máu, nâng cao hoạt động thần kinh và sửa chữa suy giảm mô ở vùng niệu đạo và âm đạo. Bôi kem estrogenở âm đạo, đặt vòng hay miếng dán có estrogen có thể giúp các mô vùng này khỏe hơn nên giảm được một số triệu chứng của són đái do stress hay són đái do mót khẩn cấp.

Imipramine (tofranil): Là loại thuốc chống trầm cảm, làm cho cơ bàng quang giãn nhưng lại làm cơ vòng ở cổ bàng quang co, do đó được dùng cho cả són đái do mót khẩn cấp và do stress. Imipramine có thể gây buồn ngủ cho nên thường chỉ dùng về đêm và vì thế có ích cho trường hợp són đái ban đêm, kể cả cho trẻ em bị đái dầm về đêm. Duloxetin (cymbalta) cũng là thuốc chống trầm cảm và đôi khi được dùng để chữa trị chứng són đái do stress.

Hiếm khi có tác dụng phụ nghiêm trọng nhưng có thể có những vấn đề về tim mạch như tim đập không đều và chóng mặt hay ngất xỉu do tụt huyết áp khi đứng lên quá nhanh. Ngoài ra, có thể khômiệng, mờ mắt và táo bón. Loại thuốc này có tương tác với nhiều  loại thuốc khác nên cần báo cho thầy thuốc biết những thuốc đang dùng trước khi dùng imipramin.

Desmopressin: Là hormon tổng hợp của một hormon tự nhiên trong cơ thể có tên là ADH (hormon chống lợi tiểu). Hormon này làm cho sự sản xuất ra nước tiểu giảm đi. Cơ thể bình thường tiết ra ADH nhiều hơn về đêm do đó nhu cầu đái giảm đi. Ở trẻ em, nguyên nhân gây ra đái dầm có thể do giảm tiết ADH về đêm. Nhiều nghiên cứu cho thấy, desmopressin cũng có thể giảm được chứng són đái ở phụ nữ trưởng thành. Về tác dụng phụ, tuy không nhiều nhưng có nguy cơ giữ nước và thiếu hụt sodium trong máu nên có thể dẫn đến co giật, phù não và thậm chí tử vong.

Thuốc chẹn alpha (alphablockers): terazosin (hytrin), doxazosin (cardura), tamsulosin (fl omax) và alfzosin (uroxatral) được dùng để điều trị những vấn đề do phì đại tuyến tiền liệt và nghẽn tắc ở lỗ ra bàng quang gây cản trở bài tiết. Thuốc làm giãn cơ nhẵn của tuyến tiền liệt và cổ bàng quang để dòng nước tiểu thoát ra bình thường và phòng ngừa những co thắt bất thường của bàng quang có thể dẫn đến són đái do mót khẩn cấp.

Thuốc ức chế 5-alpha reductase (5-alpha reductase inhibitors): fi nasteride (proscar) và dutasteride (avodart) có tác dụng ức chế sản xuất ra hormon nam DHT, hormon này có thể là nguyên nhân làm phì đại tuyến tiền liệt. Những thuốc này có thể giảm nhẹ các vấn đề làm rỗng bàng quang bằng cách làm cho tuyến tiền liệt phì đại co lại.

BS. XUÂN ANH

0--1

Liên hệ xóa tin: [email protected]