Liệu pháp sinh học trong điều trị viêm khớp dạng thấp

18.013

Liệu pháp mới nhất và có hiệu quả nhất đối với viêm khớp dạng thấp là liệu pháp sinh học (LPSH).  Đây là phương pháp điều trị bằng cách sử dụng các protein biến đổi gen được chiết xuất từ gen người.  Các protein này có tác dụng ức chế một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phản ứng viêm, một yếu tố đặc biệt trong viêm khớp dạng thấp. Liệu pháp sinh học thường được sử dụng khi các thuốc chữa trị khác không làm giảm phản ứng viêm của viêm khớp dạng thấp.  Liệu pháp sinh học còn có tác dụng làm chậm hoặc chặn đứng tiến triển của viêm khớp dạng thấp khi các loại thuốc khác đã tỏ ra không hiệu quả.

LIỆU PHÁP SINH HỌC TÁC DỤNG NHƯ THẾ NÀO?
Liệu pháp sinh học là các protein biến đổi gen được chiết xuất từ gen người. Chúng có tác dụng ức chế một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phản ứng viêm, một yếu tố then chốt trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Liệu pháp sinh học khác biệt chủ yếu với các liệu pháp kinh điển khác ở chỗ liệu pháp sinh học nhằm vào một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch trong khi liệu pháp kinh điển lại tác dụng trên diện rất rộng của hệ miễn dịch.

TÁC DỤNG PHỤ CỦA LIỆU PHÁP SINH HỌC LÀ GÌ ?
-Tương tác như các thuốc làm giảm miễn dịch khác. Liệu pháp sinh học  có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn hoặc các bệnh khác. Vì vậy, những người sử dụng Liệu pháp sinh học  cần phải theo dõi nếu phát hiện sốt kéo dài hoặc có các triệu chứng bất thường khác.
- Liệu pháp sinh học có thể làm bùng phát một số bệnh đã “ngủ yên” như bệnh lao hoặc suy tim.
- Tất cả các bệnh nhân cần thử test tuberculin trước khi tiến hành Liệu pháp sinh học
- Một bất lợi khác của Liệu pháp sinh học là phải tiêm truyền đường tĩnh mạch
- Phụ nữ có thai được khuyến cáo là không nên dùng Liệu pháp sinh học .

CÁC CHẾ PHẨM CỦA LIỆU PHÁP SINH HỌC
Entanercept và adalimumab
Entanercept và adalimumab đều có tác dụng làm giảm triệu chứng viêm và các tổn thương của viêm khớp dạng thấp bằng cách ức chế một hoạt chất của phản ứng viêm được gọi là yếu tố hoại tử khối u (TNF: Tumor necrosis factor). Entanercept và adalimumab là chất ức chế TNF được dùng dạng tiêm dưới da, 1 hoặc 2 lần một tuần. Bệnh nhân được tập huấn cách tự tiêm thuốc hay nhờ người thân trong nhà hoặc y tá tiêm cho. Bộ dụng cụ để tiêm được chế tạo rất dễ sử dụng, hơn nữa thuốc đã được chứa sẵn trong ống tiêm, sẵn sàng cho việc tự tiêm, thuốc có thể gây kích thích tại chỗ tiêm. Để làm giảm tác dụng phụ này chỉ cần đặt đá lạnh lên chỗ tiêm trước và sau khi tiêm. Entanercept và adalimumab đều có thể làm giảm hệ miễn dịch dẫn đến nhiễm trùng. Mặc dù hiếm gặp nhưng một số ít bị nhiễm trùng trầm trọng sau khi tiêm.

Infliximab
Tương tự như hai loại thuốc trên Infliximab làm giảm phản ứng viêm và tổn thương của Viêm đa khớp dạng thấp bằng cách ức chế một hoạt chất hóa học của hiện tượng viêm được gọi là yếu tố hoại tử khối u (TNF). Infliximab được dùng bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch tại các cơ sở y tế do bác sỹ chỉ định. Mỗi lần truyền tĩnh mạch kéo dài trong 2 giờ. Liệu pháp truyền tĩnh mạch được thực hiện 3 lần trong 6 tuần đầu tiên của liệu trình, sau đó cứ mỗi 8 tuần. .
Infliximab thường được dùng phối hợp với Methrotrexat để điều trị viêm đa khớp dạng thấp. Bởi vì dùng bằng đường tiêm truyền , nên thuốc rất dễ gây ra choáng phản vệ, vì vậy cần phải theo dõi trong suốt quá trình tiêm truyền. Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ miễn dịch nên rất dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mẫn đỏ thì phải báo ngay cho bác sỹ điều trị biết.

Anakira
Anakira là một loại protein có tác dụng làm giảm phản ứng viêm bằng cách ức chế chất truyền tin hóa học là Interleukin-1. Anakira được chỉ định tiêm mỗi ngày một mũi. Anakira không được chỉ định dùng rộng rãi vì tác dụng không cao. Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ thống miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mẫn đỏ thì phải báo ngay cho bác sỹ điều trị biết.
Rituximab
Rituximab được chỉ định với những bệnh nhân Viêm đa khớp dạng thấp trung bình và nặng mà không đáp ứng với các liệu pháp ức chế TNF khác như Entanercept và adalimumab hoặc Infliximab. Rituximab là một protein kháng thể tác dụng chủ yếu làm giảm các tế bào bạch cầu chuyên biệt, được gọi là tế bào B ở trong máu. Rituximab được sử dụng bằng đường truyền tĩnh mạch 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 tuần lễ, kết hợp với Methrotrexat. Liệu trình Rituximab có thể được dùng lần nữa nhưng phải cách 4 đến 8 tháng sau. Bởi vì, Rituximab được dùng bằng đường truyền tĩnh mạch, nên nó có thể bị shock phản vệ và bệnh nhân phải được theo dõi trong suốt quá trình truyền dịch, cũng giống như các liệu pháp sinh hoc khác là làm giảm hệ miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng.

Anbatacept

Anbatacept thường được dùng để điều trị viêm đa khớp dạng thấp thể trung bình và nặng. Anbatacept là một protein kháng thể tác dụng ức chế các tín hiệu chủ  yếu để kích hoạt tế bào Lympho T của hệ miễn dịch Lympho bào T được hoạt hóa đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến triển của bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Anbatacept cho thấy có tác dụng làm giảm các triệu chứng và ngăn chặn tiến triển của bệnh ở những bệnh nhân không dùng Methrotrexat hoặc các liệu pháp sinh học khác. Anbatacept có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với các liệu pháp khác ngoại trừ liệu pháp sinh học.

BS Nguyễn Văn Thông




Theo SuckhoeNCT

0--1

Liên hệ xóa tin: [email protected]