Triệu chứng, cách điều trị và phòng ngừa bệnh thủy đậu

Thủy đậu thường bùng phát vào mùa đông-xuân hàng năm, kéo dài cho tới hết mùa xuân. Tuy là một bệnh lành tính, song cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

28.1733

Cũng giống như sởi và một số bệnh do virus khác, thủy đậu thường bùng phát vào mùa đông-xuân hàng năm, kéo dài cho tới hết mùa xuân. Người bị thủy đậu nếu không được chăm sóc và chữa trị đúng cách sẽ dễ dẫn đến biến chứng nguy hiểm.

Triệu chứng của bệnh

Bệnh thủy đậu (dân gian gọi là trái rạ) do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster Virus (VZV) gây ra. Biểu hiện chính của bệnh là các tổn thương dạng bóng nước trên da và niêm mạc. Sau khi siêu vi xâm nhập cơ thể, phải qua thời gian khoảng 10-20 ngày (gọi là thời kỳ ủ bệnh) người bệnh mới xuất hiện các triệu chứng của một người nhiễm siêu vi (sốt, đau đầu, uể oải, chán ăn...). Lúc này, trên da người bệnh có thể xuất hiện những hồng ban có đường kính vài milimet và sau 1-2 ngày mới xuất hiện nốt đậu. Đa số nốt đậu có đường kính dưới 5mm, tuy nhiên cũng có nốt đậu có đường kính tới 10mm. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn tiến nặng.

Biểu hiện chính của bệnh là các tổn thương dạng bóng nước trên da và niêm mạc.

Mụn bóng nước lúc đầu chứa một chất dịch trong, khoảng 1 ngày sau trở nên đục như mủ rồi 2-3 ngày kế tiếp thì vỡ ra, các mụn sẽ đóng vẩy.

Bên cạnh mụn nước trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn nhưng ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 - 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo. Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh.Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường.Người bị nhiễm bệnh có thể bị từ chỉ vài mụn trái rạ cho đến hơn 500 mụn trên thân thể.

Biến chứng của bệnh thủy đậu

Biến chứng thường gặp nhất là bị nhiễm trùng tại các nốt đậu. Những người bị biến chứng này nếu không chữa trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn sâu, lan rộng nên cho dù được chữa khỏi vẫn có thể để lại nốt sẹo rỗ gây mất thẩm mỹ, nặng hơn còn dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng máu. Ngoài ra, người mắc bệnh thủy đậu còn có thể bị biến chứng viêm phổi, viêm não...

Biến chứng viêm phổi hay gặp ở người lớn hơn là trẻ em và thường xuất hiện vào ngày thứ 3-5 của bệnh. Viêm phổi có thể diễn tiến nhẹ, hồi phục nhưng cũng có thể diễn tiến nặng dẫn tới suy hô hấp, phù phổi... và nguy hiểm tính mạng. Riêng trường hợp bị viêm não, tỉ lệ tử vong chiếm 5-20%, ngay cả khi được cứu sống vẫn có thể để lại di chứng nặng nề hoặc phải sống đời thực vật trong suốt tháng ngày còn lại.

Biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh thủy đậu thường ở các nốt đậu.

Cũng theo các bác sĩ, người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi mang thai dưới 20 tuần sinh con ra sẽ có một tỉ lệ nhỏ (khoảng 2%) bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh. Các biểu hiện của hội chứng này có thể là: sẹo da, nhẹ cân, các bệnh về mắt (đục thủy tinh thể, tổn thương võng mạc...), tay chân ngắn, đầu bé, chậm phát triển tâm thần.

Cách điều trị 

Bệnh nhân thủy đậu cần nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn (người lớn phải nghỉ làm, học sinh phải nghỉ học).

Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa.Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 90/00. Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm trong phòng tắm. Bệnh nhân nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.

Đối với trẻ em: nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.

Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.

Người bệnh thủy đậu cần an các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả. Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.

Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh... Tuyệt đối không được dùng thuốc Aspirin để hạ sốt.

Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.

Với người nhà bệnh nhân cần hạnh chế tiếp xúc với người bệnh.Khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau đó phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh. Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B, sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng.

Cách phòng ngừa

Bệnh thủy đậu lây truyền rất nhanh. Bệnh nhân có thể lây bệnh cho người khác 5 ngày trước và sau khi phát ban và không còn lây lan nữa khi các mụn nước đã khô vảy. Bệnh còn có thể lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo hoặc các vật dụng khác đã nhiễm dịch tiết từ các vết mụn phồng giộp của người bệnh.

Mọi người đều có thể chủ động phòng bệnh thủy đậu bằng cách tiêm vắc xin phòng bệnh. Đây là biện pháp an toàn và hiệu quả nhất. Vắc xin này được sử dụng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên. Tùy theo loại vắc xin mà trẻ chỉ cần tiêm một liều duy nhất hoặc nhắc lại liều thứ 2 đối với trẻ trên 12 tuổi. Khi tiêm đủ liều trẻ sẽ đạt được miễn dịch kéo dài đối với bệnh thủy đậu và cả bệnh zona sau này. Những trẻ đã từng mắc bệnh thủy đậu sẽ không cần tiêm ngừa vì bản thân đã có miễn dịch rồi.

Thủy đậu là một bệnh lành tính, song cần phát hiện và điều trị sớm để tránh biến chứng.

Lưu ý: Không tiêm vắc xin thủy đậu cho phụ nữ đang mang thai.Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 đến 49 tuổi) nên tiêm vắc xin thủy đậu trước khi mang thai 3 tháng.

Theo khuyến cáo của các bác sĩ thì bệnh thủy đậu là một bệnh lành tính, song cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời để tránh những biến chứng nguy hiểm. Tốt nhất ngay sau khi phát hiện các triệu chứng của bệnh cần đến các cơ sở y tế để được chăm sóc và điều trị kịp thời.

Cục Y tế dự phòng cho biết mỗi năm ở nước ta, số người mắc bệnh thủy đậu dao động 25.000-40.000 người. Riêng trong năm 2014, cả nước đã ghi nhận hơn 20.000 trường hợp mắc thủy đậu. Cục Y tế dự phòng khuyến cáo, khi bị thủy đậu, người bệnh nên sớm đi thăm khám và chữa trị. Người bệnh không nên gãi sẽ gây bội nhiễm vi khuẩn; cần tắm nước ấm; giặt và phơi nắng đồ dùng cá nhân; tránh tụ tập nơi đông người, che tay hoặc quay lưng lại khi ho... để tránh lây nhiễm cho người khác.

 

Theo Thái Bình tổng hợp/Nguoiduatin.vn

0--1